Truyện nhân quả phần 5 : Chịu quả báo vì đập phá tượng phật

Trong cuộc sống đầy xô bồ hiện nay, ai cũng cần những khoảng lặng để suy ngẫm những gì đã và đang xảy ra xung quanh mình. Con người đôi lúc phải trải qua “hỉ nộ ái ố”, phải chứng kiến những điều tưởng chừng rất khó lí giải.

Cuộc đời có những quy luật khó tin nhưng có thật, đó là luật nhân quả và những câu chuyện quả báo tưởng chừng như chỉ có thể xảy ra trong truyện, nhưng lại diễn ra và tồn tại như một lời cảnh tỉnh với bất cứ ai.

Đập chùa phá tượng Phật, hủy báng các bậc chân tu tất nhiên quả báo đến và nhanh hay chậm mỗi người sẽ khác nhau, có người bị quả báo nhãn tiền ngay đời này, có kẻ phải sang kiếp sau hoặc nhiều kiếp nữa mới phải chịu quả báo, khi nhân duyên hội tụ đủ thì có một điểm chung đó là quả báo sẽ vô cùng thống khổ và thảm khốc.

 

Ngày hôm nay các bạn hãy cùng Kênh Tử Vi đi tìm hiểu những câu chuyện về luật nhân quả hoàn toàn có thật về việc đập phá tượng Phật để hiểu rõ thêm và tự rút ra cho mình những bài học cần thiết trong cuộc sống bạn nhé!

1.Câu chuyện tượng Phật Di Lặc tại cung điện Ung Hòa Cung

Tại cung điện Ung Hòa Cung ở Bắc Kinh, Trung Quốc có một bức tượng Phật Di Lặc vô cùng tráng lệ. Bức tượng Phật này có chiều cao 18m, oai hùng uy vũ, trang nghiêm và thần thánh. Bức tượng Phật Di Lặc này là vào triều đại nhà Thanh, niên hiệu vua Càn Long, triều đình đã chuyển đến một cây cổ thụ quý hiế m lấy từ Tây Tạng, sau đó mời thợ thủ công có tay nghề cao siêu về chế tác ra.

Để bức tượng Phật đứng thẳng, tại hai bên và phía sau của bức tượng, người chế tác đã xây dựng hành lang cao hai tầng để giữ. Hành lang này chỉ rộng đủ để cho phép một người đi qua. Giữa hành lang và bức tượng Phật người ta dùng dây cáp để giằng lại, đỡ lấy bức tượng.

Theo thông tin báo cáo từ mạng văn hóa và lịch sử: Trải qua sự tàn phá thảm trọng của “Cách mạng Văn hóa” nhưng bức tượng Phật Di Lặc và Ung Hòa Cung vẫn không bị phá hủy thậm chí còn hoàn toàn nguyên vẹn. Nguyên nhân bức tượng Phật và cung điện này không bị Hồng vệ binh phá hủy khiến người đời không khỏi “sợ hãi.”

Một lần có một vị thanh niên tới cung điện thăm quan đã được vị Lạt Ma hơn 70 tuổi, ở tại cung điện kể rằng: Vào thời kỳ “Cách mạng Văn hóa” đã có 3 người là Hồng vệ binh đến đây để phá hủy bức tượng. Người thứ nhất trèo lên hành lang, giơ rìu lên để chém đứt dây cáp nhưng chiếc rìu rơi xuống không đụng vào dây cáp mà lại chém đúng vào đùi anh ta.

Người thứ hai lại cầm rìu chém, cũng chém không được mà ngã lăn xuống chết tại chỗ. Người thứ ba chứng kiến thấy quá sợ hãi và không dám làm gì. Từ đó về sau, không còn ai dám động đến tương Phật nữa. Bức tượng Phật Di Lặc và cung Ung Hòa cứ như vậy, bình yên vô sự mà được bảo tồn đến về sau.

2.Câu chuyện bức tượng Trượng Bát

Trong chùa Hưng Quốc tại huyện Bác Hưng, thành phố Tân Châu, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc có một bức tượng Phật nổi danh được làm bằng đá. Bức tượng này cao một trượng tám (1 trượng = 10 thước) nên được người dân địa phương gọi là “Tượng Phật Trượng Bát” hay cũng gọi là “Tượng Phật đá Trượng Bát.”

Người dân địa phương đều biết, bức tượng Phật này được lắp đặt lại trong mấy thập niên gần đây. Liên quan đến bức tượng này còn có một câu chuyện thật như sau:

Thời “Cách mạng Văn hóa,” vô số chùa chiền, đền thờ và tượng Phật đều bị hủy và bức tượng Phật Trượng Bát bằng đá này cũng không ngoại lệ. Người tổ trưởng của tổ chức thực hiện “Cách mạng Văn hóa” ở địa phương nơi đây đã mượn việc đập phá tượng Phật để “lập uy, lập thành tích” cho mình. Ông ta vừa đập vừa bắn một cách điên cuồng, khiến nhiều người dân dù muốn cũng không dám đến khuyên can.

Người tổ trưởng này ban đầu lệnh cho một người trong nhóm bắn vào con mắt của bức tượng Phật. Dường như cảm thấy chưa đủ, ông ta triệu tập một nhóm người đến vừa đập vừa nện, nhưng bức tượng Phật vẫn không bị đổ.

Người tổ trưởng này vô cùng bực bội nên đã điều một chiếc máy kéo từ địa phương khác tới, dùng dây buộc vào cổ bức tượng đá rồi cho máy kéo chuyển động. Kết quả khiến cho đầu của bức tượng đá bị đứt ra và rơi xuống mặt đất.

Sau khi sự tình này xảy ra không lâu thì người mà đã cầm súng bắn vào mắt bức tượng Phật trong lúc đang lao động thì bị đá bắn vào mắt và bị mù. Người tổ trưởng kia trong một lần ngồi bên cạnh của ghế lái máy kéo, vì không cẩn thận đã bị ngã xuống đất và lập tức bị bánh xe sau của máy kéo nghiền qua cổ khiến cho đầu bị lìa khỏi cổ mà chết tại chỗ.

  1. Câu chuyện: Bị quả báo vì đập phá miếu thờ, vũ nhục tổ tiên

Trong dãy núi thuộc phía bắc của huyện Cử, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc có một ngôi làng mà người thuộc dòng họ Lưu chiếm đa số. Thời kỳ “Cách mạng Văn hóa” càn quét khắp đất nước thì thôn trang nhỏ hẻo lánh này cũng không thoát khỏi.

Trong quá trình mở rộng cuộc vận động “phá tứ cựu” đã kêu gọi, ép buộc người dân phá hủy vô số đồ cổ, chỉ có một ngôi miếu nhỏ và bài vị tổ tiên ở gian chính là không ai dám động đến.

Nhưng, trong thôn làng nhỏ ấy có hai thanh niên trẻ tuổi thuộc dạng “to gan lớn mật,” “không biết trời cao đất dày” tự vỗ ngực xưng: “Các người không dám đập, chúng ta dám!”

Kết quả, ngôi miếu nhỏ bị đập phá, họ còn dùng chân giẫm nát bài vị của tổ tiên, sau đó đem ném xuống con sông nhỏ ở trước thôn. Sau khi hủy hoại miếu và bài bị tổ tiên xong, một người trở về nhà, người còn lại ngồi trên một tảng đá ở ven sông nghỉ ngơi.

Không ngờ, người trở về nhà, sau khi về đến nhà đột nhiên bụng bị đau quằn quại, nằm lăn lộn trên mặt đất. Mẹ của người thanh niên này vốn là một người tin vào Phật, nhìn thấy cảnh con trai sau khi đập miếu trở về nhà bị bạo bệnh, tính mạng khó giữ nên đã công khai quỳ gối lê từ nhà đến ngôi miếu nhỏ kia để thay con trai nhận lỗi bất chấp bị “phê đấu” thời bấy giờ (phê đấu là bị công khai xử tội trong thời “Cách mạng Văn hóa”).

Người thanh niên này cũng kịp thời nhận ra mình đã bị báo ứng vì việc làm tội lỗi nên trong lòng vô cùng hối hận, phát tâm kính trọng Phật. Kết quả thật kinh ngạc, bụng anh ta đã dần dần giảm đau, cuối cùng cơn đau hoàn toàn biến mất.

Nhưng người thanh niên ngồi nghỉ bên bờ sông thì không được may mắn như vậy. Sau khi đã nghỉ ngơi đủ, ngay lúc anh ta đứng dậy thì bị ngã sấp xuống mặt đất. Sau khi cố gắng đứng dậy, thì phát hiện hai chân bị uốn cong lại, dù cố gắng dùng lực thế nào cũng không đứng thẳng dậy được. Điều kỳ lạ là, hai chân còn bị giao nhau ở một chỗ, không mở được ra.

Lưng của anh ta cũng bị gập xuống, cố gắng hết sức cũng không thẳng được lên khiến cho đầu của anh ta áp sát xuống mặt đất. Lúc đi đường, anh ta phải dùng cả hai tay hỗ trợ giống như kiểu chèo thuyền. Từ đó về sau, trong suốt quãng đời còn lại anh ta đều phải đi với tư thế này, vô cùng thống khổ. Tư thế này của anh ta giống y như động tác dập đầu bái Phật.

Người dân địa phương đều cho rằng, người thanh niên này vì đập miếu, làm nhục bài vị tổ tiên mà bị báo ứng như vậy. Cho nên, mọi người đều gọi anh ta là: “Người dập đầu đi đường”. Người thanh niên này phải chịu tư thế đi như vậy mãi cho đến hơn 70 tuổi thì qua đời.

  1.  Ở hiền thì ắt sẽ gặp lành

Ở Quảng Nam có một sư cụ mang pháp danh là Huyền Quang, trụ trì tại chùa Bích Liên, tuy đã 90 tuổi nhưng thần thái rất tốt. Trước khi xuất gia, cụ là một người lính. Lúc Pháp mới qua xâm lăng, nước ta không được yên ổn, sư cụ Huyền Quang (tạm gọi là “ông”) lúc này là lính trong nhóm với một toán quân do hai viên quan người Pháp chỉ huy.

Gần đồn mà ông đóng đô, có một bà già đã ngoài 60 lại góa chồng, vô cùng nghèo nàn, mưu sinh bằng việc buôn bán nhỏ kiếm từng hào, từng đồng. Trong đồn của ông, có một người lính có tên là Lợi, tính tình rất điêu ngoa. Thông thường, cứ mỗi khi bà già ấy bán đồ thì ông cùng các người lính khác trong đồn vẫn thường hay ra mua, thành ra là khách quen, là chỗ thân thuộc, đồng tiền cũng thành ra vay qua mượn lại lẫn nhau, nhưng những đồng vốn cũng chủ yếu là vay góp.

Hôm nọ, khi nghe tin bất ngờ là có lệnh di quân, bà liền tới đồn để đòi những đồng tiền bà đã cho vay mượn nhằm trả lại cho thân chủ của mình. Lúc ấy, ông thì đi đâu không có tại đồn, còn Lợi thì mãi tới tối mới đem một đồng bạc về trả cho bà. Bà liền cầm để đến trả cho người bà đã vay góp, nhưng than thay đồng bạc bà được Lợi trả lại là đồng bạc giả. Bà bị người chủ nợ chửi rủa thâm tệ và còn hăm dọa bắt bà đi báo quan.

Lúc đó thì cũng đã muộn, Lợi cũng đã dời đồn đi xa, bà vừa tức vừa uất, không biết lấy tiền đâu ra để trả cho người ta. Bà cũng tính đến chuyện bán hết tất cả các đồ đạc trong nhà để trả nợ nhưng tính đi tính lại cũng không thể nào đủ được, bà đã nghĩ mình chỉ còn nước chết. Nghĩ quẫn một hồi, bà vội lấy dây lưng treo lên cây rồi treo cổ tự tử, bỗng nhiên lúc này từ đâu ông (sư Huyền Quang) liền xuất hiện và lật đật cứu bà.

Bà nhìn ông vừa khóc vừa nói không nên lời. Ông mới hỏi nguyên do thì được bà kể lại đầu đuôi câu chuyện cho ông nghe. Nghe xong xuôi câu chuyện, ông động lòng trắc ẩn liền móc túi ra một đồng với mấy xu đưa hết cho bà và nói rằng : “ Bây giờ tôi đưa đồng bạc của tôi cho bà, còn đồng bạc của anh Lợi bà đưa cho tôi, tôi tìm ảnh tôi đổi lại”. Vậy là bà ấy thoát khỏi ngưỡng cửa của thần chết.

Thế là đoàn lính cứ tiếp tục kéo ra mặt trận khác. Không may, lại bị quân địch bắn đột kích khi đang men theo con đường sát chân núi. Người đầu tiên bị bắn ngã nhào ra trước là Lợi, ông cũng bị trúng đạn. Lúc ấy hên là có cứu viện tới kịp thời đánh lại được bọn giặc và đưa những người bị thương về lại trại.

Một điều lạ là, ông từ từ tỉnh dậy, Bác sĩ của quân đội xem xét khắp nơi trên cơ thể ông nhưng lại không tìm thấy một vết thương nào cả. Khi xem xét tới túi áo của ông thì rõ ràng thấy dấu đạn, thì ra chính đồng bạc của bà già đưa cho ông lúc nãy chính là cái bia đỡ cho ông, đồng bạc bị lõm một lỗ sâu hoáy. Từ sau ông thôi lính và xin về chùa quy y theo Phật.

Đây chính là câu chuyện kể về luật nhân quả, là trường hợp gặp may mắn, ở hiền gặp lành, còn ở ác lại gặp dữ.

 

  1. Kiếp trước làm kiếp này chịu

Tại phủ Hà Giang xưa, có một người tên là Phùng Thụ Nam, ông là người rất thông minh và rất có tài, đặc biệt là tài viết lách. Mười mấy năm ông phiêu du tại kinh thành nhưng mãi mà vẫn chưa thành danh. Ông cũng hay gặp cơ hội, nắm bắt lấy nhưng không hiểu sao cuối cùng lại cũng thất bại. Cuộc sống của ông cứ tiếp diễn nghèo khổ, trong thâm tâm chất chứa nhiều nỗi buồn.

Một hôm nọ, ông tới miếu thờ và thỉnh cầu thần linh cho ông biết tại sao số mệnh của ông lại hẩm hiu như vậy. Và ngay đêm hôm đó, ông mơ thấy có người đến là nói với ông rằng:

“Vận mệnh đời này của ngươi là do ngươi tạo thành, vì thế ngươi không nên oán hận về những khổ nạn cũng như những thăng trầm trong cuộc sống mà bản thân đã gặp phải. Kiếp trước, để đạt được danh tiếng mà ngươi đã sẵn sàng dùng mọi lời lẽ giả dối, lừa gạt mọi người. Khi gặp những kẻ phạm pháp, mặc dù biết rõ rằng tội của người đó không thể nào dung tha được, hết lần này đến lượt khác, ngươi tìm cách biện giải giúp người đó, chỉ để được nhận lại sự cảm kích.

Để làm ra vẻ là người tốt mà ngươi đã đem oán hận quy kết cho người khác. Ngươi quả là người quá xảo quyệt! Ngoài ra, khi làm những hành vi này, ngươi đều điều khiển mình ở ngoài cuộc, là người giật dây, cho dù là có công hay có tội đi chăng nữa thì cũng đều do người khác gánh chịu. Hễ cứ  thấy có ai động chạm hay để ý tới lợi ích của ngươi, ngươi liền tìm cách nhanh chóng lẩn tránh.

Có những chuyện ngươi chỉ cần bỏ một chút công sức ra là có thể cứu được người khác thoát khỏi cái cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”, nhưng ngươi lại chỉ đứng nhìn vì sợ bị phiền phức. Người khác nhìn ngươi có vẻ thân mật, nhưng thực sự lại là không hề thân, thực ra bên trong rất thờ ơ nhưng lại tỏ vẻ rất ân cần và chu đáo bên ngoài. Ngươi là người giả tạo, đạo đức giả, làm mọi việc chỉ để tốt cho lợi ích của bản thân mình.

Một người nếu ai đã lỡ làm chuyện gì sai trái thì có thể bù đắp lại bằng những việc thiện, việc tốt. Nhưng nếu người nào đã có tâm địa xấu xa thì dù có thiên lý, luật lệ cũng không thể nào dung thứ được. Vậy nhìn vận mệnh của ngươi ở kiếp này như vậy ngươi thấy có đáng hay không?”

Phùng Thụ Nam nghe xong vô cùng hối hận, không bao lâu sau thì đổ bệnh mà chết. Đây chính là cái nghiệp mà ông đã gây ra ở kiếp trước mà ở kiếp này ông phải gánh chịu.

Nói sơ lược ba loại “báo” dưới đây, Chi tiết thì nhiều hơn, xin đề cập và tìm hiểu ở bài viết khác

1) Hiện báo: đây là quả báo trong đời hiện tại; có nghĩa đời này gây nhân thì hiện đời chịu quả. Quả báo này có tánh cách mau, ví như trồng loại cà, ớt hay gieo giống lúa, chỉ trong vòng một mùa, một năm đã thu được kết quả.

2) Sinh báo: Quả báo phải chịu trong đời sau do hành động của chúng ta làm trong đời này. Quả báo này có tánh cách hơi lâu, ví như trồng mụn chuối con, hạ thổ năm nay, sang năm mới có trái. Trong kinh có câu: “Muốn biết nhân kiếp trước, hãy xem sự thọ hưởng đời nay. Muốn rõ quả kiếp sau, nên xét sự tạo tác trong hiện tại”. Hai câu này có thể chỉ cho ảnh hưởng của sanh báo.

3) Hậu báo: Qua nhiều đời, nhiều kiếp sau khi đủ duyên mới trả quả báo.

Các loại quả báo trên có thể giải thích cho chúng ta biết tại sao trong đời sống hiện tiền có người rất hiền lành tốt bụng mà cứ gặp những điều không may khiến cho họ chịu đau khổ triền miên, đó là do những kiếp trước họ đã gây nghiệp xấu đến đời này đủ duyên họ phải trả gọi là “hiện báo”, còn những nhân lành họ làm đời này có thể họ sẽ được hưởng phước báo ở đời sau gọi là “sinh báo”.

Những người sống ở đời này có những hành động ác, hại người đau khổ mà vẫn sống trong sung sướng gặp nhiều may mắn, đó là có thể trong nhiều đời nhiều kiếp trước họ tạo nhiều nghiệp lành nên đời này họ được hưởng phước, riêng những điều họ làm ác ở đời này thì họ sẽ phải trả ở những đời, những kiếp sau gọi là “hậu báo” vậy!

About admin

Trang web về xem tử vi phong thủy nhân tướng học hướng tới các đối tượng trẻ 9x 10x để họ nhận thức được các giá trị của cuộc sống qua đó trân trọng và thấu hiểu cuộc đời
%d bloggers like this: