cõi địa ngục

Những câu truyện CÓ THẬT kể về CÕI ĐỊA NGỤC

Những câu truyện CÓ THẬT kể về CÕI ĐỊA NGỤC rùng rợn và ma quái

Sống ở trên đời này, chắc hẳn bạn đã nghe rất nhiều đến 2 từ địa ngục, hay nghe nói về 18 tầng địa ngục. Vậy địa ngục là gì, nó ở đâu, ai sẽ là những người bị đày xuống địa ngục. Và liệu rằng đã có ai từng xuống địa ngục là quay trở lại được nhân gian hay chưa

Để làm rõ những điều này. Xin mời các bạn hãy cùng kênh tử vi chúng ta cùng nhau đến với video dưới đây để hiểu rõ hơn về cái mà người ta gọi là Địa Ngục nhé

Địa ngục là gì ? Hình trình đi đến địa ngục

Âm tào địa phủ là một nơi chỉ tồn tại trong văn hóa, tín ngưỡng của nhân loại. Khi con người chết đi hồn sẽ lìa khỏi xác và lên thiên đường hoặc xuống địa ngục. Linh hồn tội lỗi sẽ bị trừng phạt, đày đọa tại âm phủ trước khi luân hồi chuyển kiếp. 

Con người ta ai sinh ra rồi cũng phải đều về với đất . Chắc hẳn mọi người ở đây ít nhiều đều ít nhiều tò mò về cõi âm. Cõi âm luôn luôn tồn tại song song với chúng ta. Người thân chúng ta khi mất đi thì sự gắn bó còn khăng khít hơn khi họ còn sống. Nếu như lúc sống chúng ta cần phải nói chuyện chia sẻ thì họ mới hiểu và biết. Nhưng khi chết đi thì tâm tưởng chúng ta suy nghĩ gì họ đều có thể đọc được. Trần gian là cõi vật chất thì âm gian là cõi hữu hình không tồn tại ở thể vật chất k thể cầm nắm được. 

Sau khi chúng ta chết đi, Diêm Vương căn cứ theo quyển sổ sinh tử , phái Hắc Bạch Vô Thường đến trước để tìm linh hồn , linh hồn rời khỏi thân xác con người. Hắc Vô Thường không nhận người thân , chuyên cầm dây xích gông cùm để bắt những linh hồn tà ác . Bạch Vô Thường không chỉ mang đến cho con người cảm giác sợ hãi mà mang đến vận may phát tài. Hai ông này chuyên đi bắt vong về địa phủ . Ai khi sống tạo nhiều nghiệp chướng sẽ do Ông Hắc Vô Thường dẫn và ai khi sống lương thiện sẽ do ông Bạch Vô Thường dẫn dắt. 

Như các bạn đã biết, thế giới trần sao thì thế giới âm cũng tương tự như vậy, nếu như chúng ta sống trên dương thể phải có hộ khẩu thì những người chết đi cũng phải vậy. Và việc chết đi giống như việc chuyển hộ khẩu vậy, chúng ta phải làm thủ tục cắt hộ khẩu ở trên trần gian để đi xuống âm phủ. Các Linh hồn vừa mới mất sẽ phải đến gặp thần Thổ Địa để cắt hộ khẩu trên trần gian. Sau đó linh hồn sẽ phải đi đến chỗ Thành Hoàng khu vực mình đã sống trên dương gian để lĩnh giấy thông hành đi về âm giới..

Thổ Địa là một chức quan trong bộ máy quan lại dưới âm gian là một chức quan nhỏ . Ngoài nhiệm vụ cải quản 1 vùng đất thì còn có nhiệm vụ chuyên quản lý vong hồn ở một khu vực nào đấy trên dương gian .

Đại đa số mọi người trong vòng 49 ngày sau khi chết thì mọi người chỉ có cảm giác như ngủ và không hề biết rằng mình đã chết, chỉ 1 phần nhỏ những người khi sống họ có tu tập có giác ngộ linh tính cao thì họ mới biết được mình đã chết trong 49 ngày đầu. Thường thì nếu người chết rơi vào giai đoạn này, tức là người chết không biết mình đã chết. Vong hồn của họ ở trong nhà, hoặc quanh quẩn bên xác của họ nếu họ quá luyến tiếc thân xác, xác được chôn thì họ sẽ quanh quẩn ở nghĩa trang.

Chúng ta không thể thấy họ, nhưng họ lại thấy chúng ta, họ kêu tên và đụng vào người thân nhưng không ai thấy họ. Điều này khiến họ tức giận và rơi vào trạng thái sợ hãi, bởi sự vô hình của họ và bị chúng ma níu kéo. 

Đối với những người chết do tai nạn, thì phải nhanh chóng đưa thân xác về nhà, tiến hành gọi hồn về nhà, tránh trường hợp thân xác một nơi, hồn một nơi. Điều này không chỉ có hại cho người đã mất, mà còn gây hại tới cuộc sống của người đang sống.

Trước khi vào địa phủ linh hồn với sự áp tải của Sát Thần sẽ quay trở lại cố hương để bái biệt lần cuối . Linh hồn không cam tâm xuống địa ngục ngay sau khi chết rồi vẫn muốn quay trở về nhà để cáo biệt lần cuối với dương gian. Sát thần âm giới sẽ làm ảnh hưởng đến người thân trong gia đình nên nhiều nhà phải vẽ bùa trấn yểm xua đuổi hung tà. Sau khi báo biệt dương gian thì linh hồn sẽ được đi đến Quỷ Môn Quan là cửa vào địa ngục , tại đây có lính canh gác cửa địa Ngục là Quỷ giữ cửa và mười tám ác quỷ. Nhiệm vụ là kiểm tra giấy thông hành của những linh hồn.

Ngạn ngữ có câu: “Quỷ Môn quan, mười người đi, chín người trở về”.

Trước Quỷ Môn quan có mười sáu quỷ lớn, truyền thuyết kể rằng Diêm La Vương đã đặc cách chọn ra một nhóm ác quỷ để trấn giữ cửa ải này, họ tra xét vô cùng hà khắc, nghiêm ngặt đối với những vong hồn dã quỷ tội ác đầy mình, bản tính hung ác không đổi; không để cho một ai có thể trà trộn đi qua quan này.

Lúc còn sống bất luận là quan chức quyền quý hay bá tánh bình dân, ai đã đến nơi đây đều cần phải tiếp nhận tra xét, xem xem có mang theo lộ dẫn – giấy thông hành đến quỷ quốc hay không, đây là căn cứ của người sau khi chết đi đến quỷ quốc báo danh.

Lộ dẫn dài 3 thước (90 cm), rộng hai thước (60 cm), được làm bằng giấy mềm màu vàng, mặt trên viết “Lộ dẫn do Phong Đô Thiên Vũ Diêm La Đại Đế phát cho và con người khắp thiên hạ, cần phải đi qua đường này, mới có thể đến địa phủ chuyển thế thăng thiên”.

Đồng thời, trên mặt lộ dẫn có đóng ba dấu ấn của “thành hoàng âm ty, phủ huyện Phong Đô”. Phàm là người sau khi chết đưa vào quan tài hoặc trong lúc hỏa táng đốt bỏ, nó sẽ theo linh hồn đến địa phủ.

Qua khỏi Quỷ Môn quan, tiếp đó chính là phải đi qua một con đường Hoàng Tuyền dài đằng đẵng. Hồn phách của người ta đến âm gian báo danh sẽ phải đi một đoạn đường rất dài, qua rất nhiều quan, vì vậy đường Hoàng Tuyền (Suối Vàng) là tên gọi chung đối với những quan và lộ trình này.

Trên đường Hoàng Tuyền có hoa Bỉ Ngạn màu đỏ, từ xa mà nhìn thì giống như là tấm thảm máu trải dài, vì loài hoa này có màu đỏ như lửa nên được ví là “đường lửa chiếu rọi”. Cũng bởi nó là cảnh vật và màu sắc duy nhất trên con đường Hoàng Tuyền dài đằng đẵng này, nên mọi người cứ đi theo hoa này mà thông đến địa ngục của cõi u minh.

Dương thọ của con người đến rồi thì sẽ chết, đây là cái chết bình thường; người chết bình thường trước hết cần phải đi qua Quỷ Môn quan, hồn phách của người ta đi qua quan này rồi liền sẽ biến thành quỷ. Ngoài ra, trên đường Hoàng Tuyền còn có rất nhiều cô hồn dã quỷ, họ là những người dương thọ chưa hết mà chết bất đắc kỳ tử; họ đã không thể lên trời, cũng không thể đầu thai, càng không thể đến âm gian, chỉ có thể lang thang trên đường Hoàng Tuyền, đợi đến dương thọ kết thúc rồi mới có thể đến âm gian báo danh, nghe Diêm La Vương phán xét.

Khi đi đến cầu Nại Hà, 

 Những người khi còn sống hành thiện tích đức thì sẽ được thần hộ tống đi qua cầu thuận lợi. Những người khi còn sống làm việc ác phần lớn bị những con quỷ dữ tợn kéo xuống dòng sông máu ô uế bên dưới cầu chịu tội. Cầu Nại Hà thì có 3 loại là Cầu cao , Cầu Trung và Cầu Thấp. Cầu Cao thì có Thần Nhật Du và Thần Dạ Du canh giữ. Hai cầu còn lại thì không có thần canh giữ . Cầu cao dành cho những linh hồn khi sống là người lương thiện thần linh sẽ giúp xua đuổi ác quỷ , mặt cầu rộng rãi linh hồn có thể đi qua 1 cách thuận lợi. Còn cầu Trung và Cầu Thấp đều không có thần canh giữ. Cầu Trung là dành cho những linh hồn nửa ác nửa thiện , cầu hẹp và trơn trượt linh hồn đi qua rất khó khăn . Còn cầu Thấp là cầu dành cho những linh hồn khi sống là con người độc ác , phần lớn linh hồn bị ác quỷ trói và kéo xuống dòng sông máu bị rắn đồng và chó sắt cắn xé. 

Trước khi linh hồn đi xuống địa Phủ thì cần phải đến Vọng Hương Đài nhìn về hướng quê nhà để từ biệt. Linh hồn đứng trước Vọng Hương Đài thu tầm mắt mọi cảnh tượng của thế gian , xem xem tình hình ở gia đình sau khi mình chết sẽ như thế nào ? 

Con người sau khi chết trước khi đến được âm gian phải trải qua 7 cửa ải với tên lần lượt là

Ải thứ nhất: Quỷ Môn quan, Đường Hoàng Tuyền, Tam Sinh thạch, Vọng Hương đài, Vong Xuyên hà,  Canh Mạnh Bà, Cầu Nại Hà

Đi qua hết cầu Nại Hà bèn có thể thông đến sáu nơi, tức là đi vào cõi lục đạo luân hồi: cõi người trời, cõi A-tu-la, cõi người, cõi súc sinh (cũng gọi là đường bên cạnh), cõi quỷ đói, cõi địa ngục.

Trong đó, người trời, A-tu-la là cõi người thuộc về ba đường trên, còn súc sinh, ác quỷ, địa ngục thì thuộc về ba đường dưới.

Còn về đi về cõi nào, là dựa vào nghiệp thiện ác tích được của vong hồn lúc còn sống mà phân loại. Người thiện nghiệp nhiều luôn luôn sẽ được bố trí ba đường trên, những người ác nghiệp nhiều luôn luôn được bố trí ba đường dưới.

Quá trình đi xuống âm gian của người ta sau khi chết vốn không thông dụng với hết thảy mọi người. Những người tu hành làm thiện nếu như công đức đạt đến viên mãn, sau khi hết mệnh sẽ không phải trải qua quá trình âm gian này mà trực tiếp được Phật tiếp dẫn đến thế giới đơn nguyên do một vị Phật nào đó cai quản ví dụ như thế giới Tây Phương Cực Lạc, thế giới Lưu Li, thế giới Liên Hoa, thế giới Pháp Luân..vv. Những kẻ đại ác làm nhiều việc gian ác cũng có thể sẽ không trải qua quá trình âm gian này, bởi nghiệp lực dẫn dắt mà sẽ bị đánh thẳng vào địa ngục và chịu khổ hình.

Sinh mệnh con người cũng như diễn viên đóng một vai diễn ở một không gian, một kiếp sống rồi khi bỏ lớp ra người này chúng ta lại tiếp tục một vai diễn khác, mang một vẻ khác.Ở không gian hữu hình này chúng ta khó mà lý giải cho sáng tỏ những gì của không gian khác. Dù bạn cho những điều trên là có tồn tại hay là truyền thuyết hoặc là mê tín cũng vậy. Nhưng xác thực nếu nó có tồn tại thì nó vẫn luôn luôn tồn tại ở đó.

Sau khi được phân chia ở lục đạo luân hồi, đa phần chúng ta sẽ phải đi xuống địa ngục, và trước mặt vong linh sẽ là thập điện diêm vương

Đến cửa Thập Điện Diêm Vương linh hồn sẽ được nhận phán quyết tại đây

Những linh hồn khi còn sống có công và tội ngang nhau thì sẽ được đưa xuống tầng thứ 10 của Chuyển Luân Vương căn cứ theo công và tội , thẩm định việc đầu thai . Những Linh hồn khi còn sống tội ác chồng chất sẽ bị đưa đến khắp các địa ngục lớn nhỏ chịu tội hình để giải trừ ác nghiệp. 

Phàm là con người khi sống rất nhiều người coi thường đạo đức, nghĩ rằng đạo đức chỉ là một thứ trang sức cho đời thêm đẹp. Còn như chuyện luân hồi chuyển kiếp, nhân quả báo ứng thì chẳng mấy ai tin. Nhưng không phải cứ không tin là nó không tồn tại. Dưới đây là một câu chuyện cho thấy việc tích đức làm việc tốt, xa rời cái ác sẽ đem đến ‘phúc báo lớn’ cho chính mình. 

1.Câu chuyện thứ nhất về cõi địa ngục : Lạnh người Cụ bà 99 tuổi chết 7 ngày rồi sống lại kể chuyện dưới “âm phủ

Cụ ngưng thở trong vòng bảy ngày rồi bỗng nhiên tỉnh lại. Sau sự cố đó, cuộc đời của bà có quá nhiều điều đổi thay và kỳ lạ.

Khi trở về tỉnh Bến Tre, chúng tôi thực sự bất ngờ câu chuyện về cụ già Phạm Thị Tưởng, ở ấp 1, xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, đã 99 tuổi có mái tóc dài 3,5 m lại từng ngưng thở suốt 7 ngày, rồi sau đó đột nhiên sống lại.

Mặc dù đã 99 tuổi, nhưng cụ Tưởng vẫn khỏe mạnh, đi lại không cần dùng đến gậy. Nhắc đến những chuyện trong quá khứ, cụ vẫn còn nhớ rất rõ.

Năm 9 tuổi, trong một lần nằm ngủ, cụ Tưởng mơ thấy có người bảo một thời gian ngắn nữa, bà sẽ phải “lên trời”. Người trong giấc mơ bảo, nếu cụ vẫn có “căn” với cuộc sống thì sẽ trở về, nếu không thì sẽ ra đi mãi mãi

Sau đêm mơ đó khoảng chừng mười ngày, trong khi sức khỏe đang bình thường, vẫn chơi đùa với lũ bạn hàng xóm, bỗng nhiên sức khỏe của cô bé Tưởng trở nên yếu ớt. Bởi bị ám ảnh bởi giấc mơ và cho rằng đó chính là điềm báo, cô bé bảo với cha mẹ: “Con ‘lên trời’ đây. Nếu bảy ngày sau, con không trở về thì hãy làm ma chay”. Chỉ mới nói dứt lời, cô bé Tưởng tắt thở.

Mặc dù đã 99 tuổi nhưng cụ Tưởng vẫn đi lại một cách bình thường

Khi đó, cả gia đình cụ rất đau buồn, dù không dám tin lời của con đã nói trước khi chết, nhưng mọi người trong gia đình vẫn nuôi hy vọng mong manh con mình sẽ sống lại nên không làm ma chay. Hồi đó, cha mẹ cô bé Tưởng đi khắp các chùa chiền để khấn cầu con mình có thể trở về.

Bảy ngày trôi qua, thấy cô bé Tưởng bắt đầu cử động một cách yếu ớt, mắt dần dần hé mở. Mọi người lúc này vui mừng khôn xiết, cố gắng đút từng thìa cháo cô bé ăn.

Cụ Tưởng chia sẻ, mình không hề biết gì trong bảy ngày ngưng thở. Trí nhớ của cụ trong suốt bảy ngày đó chỉ là một khoảng trống không có bất kỳ hình ảnh nào còn lưu lại.

Sau lần chết hụt đó, cô bé Tưởng không thể ăn bất kỳ thứ gì liên quan đến động vật, thức ăn chủ yếu đến nay của cụ là thực vật. “Tui không thể nào ăn sướng được. Cứ mỗi lần ăn thịt là lại nôn thốc nôn tháo”, cụ rành rõ chia sẻ. Về già, bên cạnh ăn hoa quả, cụ còn có thể ăn sống mì tôm chay chay. Cụ không hề cảm thấy cuộc đời của mình là kham khổ.

Một điều kỳ lạ là từ sau khi chuyện ngưng thở bảy ngày rồi sống lại, ngoài việc không ăn được thức ăn động vật, thì hễ ai động đến mái tóc hay mái tóc chạm vào nước là đầu của cụ lại bị đau. Ban đầu, vẫn chưa biết chuyện này, cha mẹ cụ vẫn cho con tắm rửa một cách bình thường. Tuy nhiên, sau mỗi lần tắm, họ lại thấy con ốm nặng, phải chừng mười ngày sau mới khỏi. Sau nhiều lần như vậy, cha mẹ mới phát hiện những cơn ốm “thập tử nhất sinh” của con là do động đến nước. Cũng từ đó, bé Tưởng “cạch” nước.

Cụ Tưởng lau nước mắt khi nhớ lại những chuyện đã qua

Trên cơ thể cụ Tưởng, chỉ có hai tay và hai chân là có thể tiếp xúc với nước, còn những bộ phận khác thì không. Đã gần 90 năm trôi qua, cụ không hề tắm gội. Hàng ngày, cụ chỉ dùng khăn lau cơ thể và thay áo quần rồi giặt. Nhưng cơ thể của cụ vẫn không hề bị “bốc mùi”.

Cũng chừng đó năm, mái tóc của cụ Tưởng cũng không được cắt. Sau khi hồi sinh, mỗi khi cắt tóc là cụ đau đầu đến mức không chịu đựng nổi. Đến năm mười tuổi, mái tóc của cụ bỗng nhiên bết dính lại với nhau. Không được tắm gội, cắt tỉa, nên đến nay, mái tóc ấy đã dài 3,5 m.

Để mái tóc không làm ảnh hưởng đến cuộc sống của mình, cụ Tưởng may một túi màu nâu để đựng tóc rồi quấn xung quanh cổ của mình. Chúng tôi ngỏ ý muốn tận mắt chứng kiến mái tóc kì lạ thì cụ từ chối và cho rằng: “Đã mấy chục năm rồi không ai có thể nhìn thấy mái tóc của tui. Đến những người bà con cũng không được”. Theo lời cụ, mặc dù sắp bước sang tuổi 100 nhưng mái tóc của cụ chỉ có một vài sợi bạc, còn lại có màu nâu hạt dẻ.

Khi hỏi về bí quyết sống trường thọ mà vẫn khỏe mạnh, cụ từ tốn chia sẻ: “Tui không có bất kỳ bí quyết gì. Có lẽ do tui không ăn thức ăn động vật mà chỉ ăn thức ăn thực vật và thường xuyên đi lại, nên mới có sức khỏe như thế này. Không chỉ thế, tui vẫn thường đọc kinh Phật để ngẫm về cuộc sống”.

Theo ông Phạm Văn Lâm (người cháu gọi cụ Tưởng bằng cô ruột, 62 tuổi) cho biết, cụ Tưởng luôn bảo cháu chắt trong gia đình phải thường xuyên đọc kinh Phật. Điều cụ dạy con cái không có gì cao xa mà chỉ bảo cuộc đời chỉ có một chữ không. Cứ lấy chữ “không” trong kinh phật mà sống. Bởi con người đến với cuộc đời từ một con số không và khi trở về cát bụi cũng chỉ là một con số không. Do đó, không nên chạy theo danh lợi hay để lòng mọi chuyện, không suy nghĩ quá nhiều để khiến tâm não không được yên bình.

Đến nay, cả gia đình cụ đều theo đạo Phật. Mặc dù không lên chùa để tu, nhưng cháu chắt cụ luôn tâm niệm nghe theo lời dạy của cụ để sống tốt với mọi người. Như ông Tâm, thường xuyên ăn chay tịnh, đọc sách Phật… mặc dù đã bước sang tuổi lục tuần nhưng nhìn cứ ngỡ chưa tới năm mươi.

Không chỉ thế, cụ Tưởng rất vui khi kể về khoảng thời gian mình vẫn còn trẻ. Lúc bước vào độ tuổi trăng tròn, cụ phải quấn mái tóc lên cổ ra đồng để giúp bố mẹ cấy, cắt lúa. Với tính nết hiền lành lại xinh đẹp nên cụ có khá nhiều người thanh niên chọc ghẹo và tán tỉnh. Chính cụ cũng không thể nào hiểu được tại sao mỗi lần bị những người thanh niên này chọc ghẹo về chuyện trai gái thì đầu cụ rất đau. Những điều này chỉ kết thúc khi cụ quyết định lên chùa đi tu.

Được biết, trước đây, cụ tu ở chùa Phước Huệ. Cách đây hai năm, do nhận thấy mình đã già nên cụ xin trụ trì được trở về gia đình để thờ phụng Phật. Khi cụ trở về, các phật tử yêu mến, góp tiền và đã xây cho cụ một ngôi miếu khang trang trong mảnh đất của chính gia đình để cụ tụng kinh. Chính vì vậy, người dân ở địa phương gọi cụ với một cái tên thân thương là cụ Tư Miễu.

Mặc dù xin trụ trì chùa Huệ Phước được về gia đình để cháu chắt của mình chăm sóc, nhưng cụ luôn muốn tự làm tất cả mọi chuyện. Đồng thời, do sức vẫn còn khỏe mạnh nên việc vệ sinh thân thể, cụ vẫn có thể tự làm không cần sự giúp đỡ của người thân. Không chỉ thế, việc cơm nước, thờ phụng, hương khói, cúng bái trong ngôi miếu của mình, cụ đều tự lo cho mình.

“Tui không muốn phụ thuộc vào mọi người. Dù già, nhưng vẫn còn chút sức lực nên tui vẫn tự làm việc. Tui chỉ chấp nhận ngồi không khi không thể nhúc nhích. Các cháu có việc của các cháu, tui có việc của tui”, cụ hóm hỉnh, cười tươi tâm sự.

Cụ Tưởng chia sẻ, mình từng được đi rất nhiều nơi như Hà Nội, Huế, Tây Ninh… Mỗi chuyến đi với cụ là cả một niềm vui. Cụ có thể kể hết những nơi mình đã đi qua, những kỉ niệm có được trong chuyến đi đó. Tuy nhiên, nơi cụ thích đến nhất là Hà Nội vì ở đó là thủ đô của đất nước. Mỗi lần cụ ra Hà Nội, nơi cụ đến sớm nhất là lăng Hồ Chủ Tịch. Bên cạnh đó, cụ có thể kể chi tiết từng lăng tẩm ở Huế như thế nào…

Cụ Tưởng men theo con đường nhỏ ra đường lớn tiễn chúng tôi trở về thành phố

Cụ Tưởng cho biết mình rất thì rất thích đi leo núi. Cách đây hai năm, tức 97 tuổi, cụ đã cùng cháu của mình tự leo lên núi ở Tây Ninh để lên thăm chùa Bà. Trong lần đi này, các cháu sợ cụ đã già nên khẩn khoản xin được cõng, nhưng cụ vẫn một mực không đồng ý, leo một mình và cuối cùng lên được đỉnh.

Chúng tôi chia tay cụ Tưởng sau một khoảng thời gian nói chuyện. Cụ tiễn chúng tôi ra đến đường đi rồi cầm tay nói “lúc nào có cơ hội về Bến Tre, các con nhớ trở lại miễu để thăm bà nhé!”.

 

2.Câu chuyện số 2 về cõi địa ngục : Chết 3 ngày sống lại kể chuyện dưới địa ngục

Pháp sư Khả Cứu đời Tống. Sư thường niệm kinh Pháp Hoa cầu sanh Tịnh Độ.

Trong chương Tam Bối Vãng Sanh của kinh Vô Lượng Thọ, đoạn thứ tư có nói: Hễ ai tu học hết thảy pháp Đại Thừa, hồi hướng cầu sanh Tịnh Độ thì A Di Đà Phật cũng đến tiếp dẫn giống hệt [như người chuyên tu Tịnh Độ]. Đủ thấy pháp môn này bao dung hết sức rộng lớn.

Pháp sư Khả Cứu ngồi vãng sanh, mất đã ba ngày, sống lại, bảo các đồng tu: “Tôi đã đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, trông thấy tình hình hoàn toàn giống như kinh đã dạy”. Ngài lại nói những ai tu Tịnh Độ trong cõi đời, hoa sen trong ao bảy báu ở Tây Phương đều có ghi tên.

Người Thượng Phẩm vãng sanh là lão hòa thượng của Quảng Giáo Viện tại Thần Châu. Khi ấy, lão hòa thượng còn chưa vãng sanh. Ngoài ra, còn có Tôn Thập Nhị Lang ở Minh Châu và chính sư Khả Cứu đều là đài vàng. Kém hơn là đài bạc, người chứng được đài bạc là Từ đạo cô.

Pháp sư Khả Cứu thuật tình hình đã thấy cho mọi người nghe rồi lại vãng sanh. Sau này, Tôn Thập Nhị Lang lâm chung, nhạc trời vang rền hư không; khi Từ đạo cô lâm chung, có mùi hương lạ ngập thất không tan.

Pháp sư Hoài Ngọc, khi lâm chung, thấy A Di Đà Phật cầm đài bạc đến đón, Sư nghĩ ta bình sinh công phu rất đắc lực, cớ sao chỉ được đài bạc, tợ hồ chẳng cam lòng. Ý niệm vừa khởi, chẳng thấy A Di Đà Phật nữa. Sư lại dốc hết tánh mạng niệm Phật bảy ngày bảy đêm không ngớt, A Di Đà Phật lại hiện, cầm đài vàng tiếp dẫn.

Trong thế gian, người tu pháp môn Tịnh Độ chân tâm niệm Phật cầu vãng sanh, hoa sen của người ấy bèn sáng ngời, rực rỡ chóa mắt. Nếu giải đãi, biếng nhác, hoa liền khô héo. Đổi dạ chuyển sang tu pháp môn khác, hoa liền chết khô.

Hết thảy sự vật trong Tây Phương đều chẳng sanh diệt, chỉ có hoa sen trong ao bảy báu là có sanh, có diệt. Sự tươi, khô, sanh, diệt ấy do hành nhân cảm thành, chứ không liên quan gì tới A Di Đà Phật.

Khi niệm Phật, tâm tánh năng niệm chẳng thể nghĩ bàn, nhưng phải dùng chân tâm, đừng dùng vọng tâm. Niệm Phật bằng chân tâm thì xử thế đãi người tiếp vật cũng phải dùng chân tâm.

Niệm niệm cầu sanh về Tịnh Độ, khi còn sống trên đời thì hết thảy thuận theo tự nhiên, chớ nên cưỡng cầu. Một câu Phật hiệu đầy đủ viên mãn Tam Học, Tam Huệ, và ba món tư lương, mà cũng đầy đủ viên mãn vô lượng hạnh môn, nhất tâm chấp trì sẽ có thể viên siêu, viên đốn.

 

3.Ni Sư kể về địa ngục

Ni sư Diệu Hân hiện tu tại am Bát Nhã ở 365b/1, đại lộ Nguyễn Văn Linh nối dài, xã An Phú Tây, huyện Bình Chánh, TP – HCM.

Cô là một Sa Di Ni hết sức đặc biệt, từ nhỏ đã có thể khai mở mắt âm dương, thấy được rất nhiều loại ma quỷ, từ những vong linh vất vưởng, đến những loại quỷ hình thù kinh dị, dữ tợn, đặc biệt, cô còn được phúc lành diện kiến với các vị Bồ Tát trong siêu hình. Chính nhờ điều đó, cô được học rất nhiều đạo lí quý báu, do chính các vị Bồ Tát chỉ dạy, làm hành trang quan trọng trên con đường tu hành sau này.

Cô trải qua một tuổi thơ hết sức dữ dội. Lớn lên lấy chồng sinh con, nhưng cuộc sống cũng đầy những đau thương. Sau nhiều năm nếm trải đủ mùi vị cay đắng của thế gian, cuối cùng, cô xuất gia, nương nhờ cửa Phật để tìm một con đường giải thoát khỏi những bi ai của nhân thế.

Tuy nhiên, con đường tu hành cũng chẳng hề bằng phẳng, cô gặp phải nhiều thử thách, nhiều sự khinh chê, dè bỉu. Sau này, cô rời khỏi đại chúng trong chùa, về nhà tự cất một cái am nhỏ tu một mình. Và câu truyện đặc biệt li kì, rùng rợn của cuộc đời cô, đã xảy ra trong khoảng thời gian này.

Ngày 1/11/2002 lúc hai giờ sáng, tại am nhỏ của mình, cô đang nằm trên võng thì chợt thấy linh ảnh Đức Phật hiện ra, hào quang rực rỡ, Phật chỉ thẳng tay về phía cô, rồi linh ảnh Phật dần mờ đi. Cô mừng rỡ bật dậy thắp nhang cúng Phật, thì cô nhận thấy mắt mình có chút vấn đề. Hai mắt sụp xuống, mở lên như mọi khi không được, chỉ he hé được một chút.

Qua hôm sau vẫn không khá hơn chút nào, cô đành lần mò ra tiệm thuốc Tây gần đó, cô vẫn nhớ rõ, tiệm thuốc đó tên là Thái Hòa. Dược sĩ khám thì thấy mắt không có bệnh gì. Cô bèn nài nỉ ông bán cho ít thuốc ngủ, về ngủ thật nhiều may ra mắt sẽ trở lại bình thường. Van nài mãi, cuối cùng cô cũng mua được hai viên thuốc ngủ.

Về nhà, cô dặn mọi người để yên để cô ngủ một giấc thật dài, rồi uống thuốc và nhanh chóng chìm vào giấc ngủ, khi đó khoảng mười giờ sáng.

Cô thấy mình lạc vào một khung cảnh đẹp đẽ, cây cối xanh tươi. Có một chiếc cầu rất dài, cô bước lên cầu đi được một lúc, thì cầu đổ sụp xuống, cô té nhào xuống sông.

Cô thấy dòng sông rất đẹp, cô muốn bơi vào bờ, nhưng bơi mãi không vào được. Thật lạ, bờ sông ở ngay đó nhưng bơi mãi không thể tới. Lúc đó,cô cảm thấy chới với, hốt hoảng, và sợ hãi …

Dần dần, dòng nước đó đưa cô ra cửa biển, nước trở nên rất lạnh, buốt thấu tim gan. Cô nhìn quanh thấy không chỉ có mỗi mình mình, mà có đến vô số người khác cũng trôi dạt theo dòng nước vào biển lạnh này, người Tây có, người ta có, Âu có, Á có, già trẻ nam nữ … đều có.

Người cô bị lạnh quá, trở nên cứng đờ ra. Quá sợ hãi, cô nghe thấy một giọng từ trên cao nhắc hãy niệm Phật, cô nghe theo cố hết sức niệm Phật, mãi mới phát âm được chữ “…Phật !… Phật”. Dần dần, niệm được “…A Di Đà Phật!”, rồi đầy đủ câu “ Nam Mô A Di Đà Phật!”, nhờ đó, cô cảm thấy dễ chịu hơn rất nhiều. Và cô quay sang chụp lấy hai người xung quanh, niệm Phật giúp họ. Lát sau, họ hết lạnh, và một người quay sang nói: “ Cô ơi, con chết đã được mười mấy ngày rồi”, người còn lại cũng nói đã chết hai mấy ngày rồi, và đây chính là biển ngâm người chết trong vòng 49 ngày.

Nghe đến đây, Ni Diệu Hân rụng rời vì nghĩ rằng mình đã chết, cô thấy hết sức đau khổ. Nhưng sau này, cô mới biết thực ra cô xuống đây để chứng kiến cảnh địa ngục, để trở lại nhân gian tường thuật cho người đời biết, chứ cô chưa có chết.

Cứ thế, dòng nước cuối cùng đưa cô tới một cửa biển, người người lớp lớp chìm nổi, dày đặc, đông vô số kể. Nơi đó xuất hiện một tòa thành to lớn, phía sau là núi cao vời vợi không nhìn thấy trời đâu ( trong kinh gọi là núi Thiết Vi)

Cô dạt vào bờ, bước lên tòa thành đó, và kinh hoàng nhận thấy các vị đầu trâu mặt ngựa, các vị quỷ vương… đủ mọi hình thù kinh dị, dữ tợn, vị nào vị đó to lớn khủng khiếp, số lượng đông đảo vô cùng.

Một vị quỷ vương dẫn cô đến một cánh cửa, cánh cửa ấy tự động mở ra, ánh hào quang bừng sáng, và cô nhận thấy Địa Tạng Vương Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát, và Chuẩn Đề Bồ Tát, uy nghi ngự trên đài. Lập tức cô cúi đầu quỳ lạy ba vị Bồ Tát.

Sau đó, cô được ba vị Bồ Tát hướng dẫn phát lồ, sám hối các ác nghiệp. Sám hối xong, hai vị quỷ vương dẫn cô vào các địa ngục, bắt đầu chuyến du hành khủng khiếp có một không hai. Cô được biết, mỗi bước chân mà hai vị ấy dẫn mình đi, tương đương với hai ngàn dặm chứ không phải như bước chân bình thường, nghĩa là địa ngục thực sự vô cùng khổng lồ, không dựa vào thần thông của các vị quỷ vương, không thể đi hết.

Cửa ngục đầu tiên mở ra, trên cửa ghi chữ tàu gì đó cô không hiểu, hỏi ra mới biết đó là ngục bất hiếu. Đập vào mắt cô là những chông sắt ghê rợn trên một bàn trông khổng lồ, có hình tròn, số lượng người trên bàn chông đó đông không thể tính kể.

Các quỷ vương đẩy những tội hồn lơ lửng trên không trung, rồi bị các tảng đá từ trên cao đè xuống, cắm phập vào chông sắt to như ngón tay, máu tuôn ra xối xả. Hình phạt đó, cũng như mọi hình phạt khác, cứ lập đi lập lại nối nhau không ngừng.

Chỗ khác, có những bàn băng lạnh, tội hồn nằm, ngồi ngổn ngang trên đó, lạnh thấu xương tủy. Hai vị quỷ vương nói, đó là quả báo do bỏ cha mẹ chịu đói, chịu lạnh. Còn chung toàn ngục này là do 12 loại tội bất hiếu, khi còn sống đã phạm khiến tội hồn phải vào đây chịu khổ, như hỗn xược cha mẹ, phá tiền của cha mẹ, đánh đập, giết cha mẹ, bỏ mặc cha mẹ đói lạnh…

Tiếp theo, Ni Diệu Hân được dẫn vào địa ngục thứ hai, tên là Vô Gián. Ngục này do phạm 80 tội danh khác nhau mà tội hồn phải vào đây, như mua gian bán lận, cướp đoạt hại người, cho vay nặng lãi, bóc lột người làm công, anh em tranh giành gia tài v.v…

Các hình phạt ở đây rất đa dạng, như đổ nước đồng sôi vào mồm, móc lưỡi kéo ra chặt, hay chặt tay, chặt chân, cho rắn, bò cạp cắn xé, bị quỷ địa ngục đâm lòi ruột kéo ra.v.v… Các tội hồn gào thét kinh hồn. Giả sử mà có máy quay ghi lại, thì không bộ phim kinh dị nào có thể so sánh được, đảm bảo ai xem rồi thì thà chết cũng không dám phạm tội.

Tiếp đến, cô được dẫn vào ngục Đại Thập Ác, các hình cụ rất nhiều, cối xay, đinh đâm, cột đồng lửa.v.v.. Có một vạc dầu cực kì khổng lồ, như một cái hồ lớn, bên trong người người lúc nhúc chìm nổi, gào thét. Tội hồn phải đọa vào đây vì các tội : giết vợ, giết chồng, giết con, phá thai, gian dâm, loạn luân, hành nghề mại dâm, khinh chê, phỉ báng người khác.v.v…

Cô đặc biệt ấn tượng với hình phạt Kim châm, dành cho những người phạm tội châm chích, kích bác, khinh chê lườm nguýt người khác, ăn xén ăn bớt.v.v.. Các tội hồn bị trăm ngàn cây kim sáng loáng, dài khoảng một gang tay, từ hư không hiện ra phóng vào người, xuyên qua từng thớ thịt, cứ thế kim phóng không ngơi nghỉ, thật đáng sợ.

Tiếp đến là Địa ngục Hỏa Thiêu, đâu đâu cũng là lửa cháy rực, dành cho những người làm thầy giáo, cô giáo, học trò phạm tội, như thầy dạy dấu nghề, dạy sai giáo án, không có lương tri, hại trò, trò đánh thầy, giết thầy.v.v…

Tiếp nữa là ngục Thập Nhị Tội Ác, dành cho 12 đại tội gây nguy hiểm cho xã hội, gồm:

1- chạy xe cố ý đâm chết người
2- cai ngục thả tử tù
3- làm tiền giả
4- xây nhà không đúng chất lượng
5- xây cầu đường cẩu thả không đúng chất lượng
6- buôn bán chất nổ
7- buôn bán ma túy, chất gây nghiện
8- đầu cơ phá hoại nền kinh tế
9- quan tòa bao che tội phạm
10- bức hại, tàn sát nhân dân
11- thông đồng ngoại bang hại nước
12- mượn danh quốc gia ép, hại nhân dân.v.v..

Những tội hồn bị vào đây rất khó được thoát ra mà siêu sinh cõi khác. Trong ngục có một biển nước lạnh giá, dưới nước là các quái vật hung dữ, bên trên là đủ thứ hình cụ nhìn lạnh xương sống.

Và, ni sư Diệu Hân rụng rời khi nhận ra người dì họ của cô đang ở trong đó, trong biển người trùng trùng điệp điệp. Bà bị các đầu trâu mặt ngựa kéo thân xác, chặt chém liên tục, máu thịt vương vãi đầm đìa. Nếu cố vùng vẫy bỏ chạy thoát ra, lập tức sẽ bị các hình cụ, móc sắt bên trên ập tới, đâm nát thân. Cô cố gọi người dì, nhưng tội hồn ở đây giống như không có tai, không thể nghe thấy được.

Khi còn sống, vào thời trước giải phóng, người dì này hành nghề buôn bán ma túy từ Campuchia về bán trong nước. Cuộc sống giàu sang, tiền bạc, nhà cửa, xe cộ …thừa mứa, con cái ăn xài phung phí.

Sau Giải phóng 1975, báo ứng hiện tiền ập đến, gia sản tiêu tán không còn gì, con cái bất hiếu, lưu lạc mỗi đứa một nơi. Ngày bà lìa đời tiền mua cỗ quan tài cũng không có. Nhưng người đời chỉ nhìn được chút ít quả báo đó mà thôi, chứ đâu biết báo ứng còn gấp triệu tỉ lần thê thảm hơn thế ở dưới địa ngục này.

Cô cũng ngạc nhiên nhận ra một người quen khác, đó là ông hàng xóm cũ của cô trên đường Nhật Tảo, TP HCM. Khi còn sống, ông làm chủ một hãng in lớn, thời đó, cô thường chơi thân với con gái thứ hai của ông. Ông vào địa ngục này vì tội in tiền giả. Khi còn sống, ông đã bị bắt và tuyên án tử hình. Chết rồi vào địa ngục này đã hai mươi mấy năm, bị các tảng đá đập nát thân thể, máu me be bét, cực kì khốn khổ, cứ thế đến ngàn muôn kiếp.

Cô muốn ở lại thêm, nhưng các vị quỷ vương đã đẩy cô đi nhanh, đến các ngục khác.

Ngục tiếp theo là Hỏa Ốc ( Nhà lửa), dành cho các bậc tri thức không có lương tâm, như nhà văn viết truyện lệch lạc, y bác sĩ tha hóa, điều chế, buôn bán thuốc giả, in ấn kinh sách sai lệch… Các tội hồn bị quỷ đóng đinh vào đầu, óc máu tung tóe, chết rồi hoàn lại thân xác, tiếp tục đóng đinh. Hoặc bị cột đá rơi từ trên cao xuống giã xác thân tan nát, như người ta dùng chày giã cua vậy. Hoặc bị quỷ dữ móc ruột, móc họng rồi ăn nuốt một cách rùng rợn… cứ thế nối tiếp không biết đến khi nào thôi.

Tiếp đến, hai vị quỷ vương đưa cô đến ngục Hỏa Ưng, thuộc Đại địa ngục A Tỳ, dành cho những cư sĩ, những người hủy báng Tam Bảo, lạm dụng, trộm cướp của Thường Trụ, lấn quyền điều hành trong chùa, khinh chê, bức hại bậc chân tu, Tăng Ni, Phật tử; đánh đập, chửi rủa Bồ Tát hiện tiền, phá hủy tượng Phật, chùa chiền, hành dâm trong chùa, lợi dụng Tam Bảo để buôn bán cắt cổ.v.v… với những đủ thứ hình phạt như ăn giòi, sói lửa cắn xé, quả cầu lửa thiêu đốt, chim ưng mổ mắt.v.v…

Đặc biệt, có những con chim đại bàng khổng lồ, một cái móng vuốt cũng to gấp mấy lần cái bàn tay con người, nhìn thôi là lạnh xương sống, chúng bay xà xuống chụp đầu các tội hồn, móc mắt, xé xác… Rồi có những con quỷ to lớn, lông lá xồm xoàm, mắt to như quả cam, hung tợn xé xác tội hồn ăn thịt.

Hai vị quỷ vương chỉ một tội hồn cho cô xem, khi còn sống, bà tên là Diệu Tích, là Phật tử một chùa lớn ở Sài Gòn. Năm 1972, bà nắm được chút quyền lực trong chùa, thường chửi mắng Hòa thượng, đánh đập tăng ni, gây sự với các Phật tử công quả khiến ai ai cũng sợ khiếp vía. Vào ngục A Tỳ này rồi, bà bị chó xé xác, bị giòi đục khoét, bị lửa cháy thiêu đốt liên tục, gào thét đau đớn.

Ngục kế tiếp cô được dẫn tới, tên là Đại A Tỳ. Đúng như tên gọi, ngục này lớn hơn nhiều các ngục khác, mang một vẻ âm u, rùng rợn khó tả. Ngục này dành cho những thầy tu của các tôn giáo khác nhau, như Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo, và nhiều các tôn giáo nhỏ, giáo phái tự xưng, các tà đạo, yêu mị của dân tộc thiểu số khác, do núp bóng Tôn giáo mà làm chuyện xằng bậy nên phải vào đây. Gồm hàng trăm thứ tội khác nhau, như đánh mắng bậc chân tu, lạm dụng tài vật của Tam Bảo, phá giới, tu không giới hạnh, đưa người nhà vào nắm quyền trong chùa, giả danh người xuất gia chuộc lợi, xây chùa giả chuộc lợi, giảng sai chánh pháp, mê hoặc người đời vào tà đạo.v.v…

Cô được các vị quỷ vương chỉ cho một ông sư đã lên chức Thượng tọa, khoảng hơn bảy chục tuổi, mặc áo màu vàng, đang ngồi trên bàn chông, bị chó cắn xé tay chân, trên đầu thì quạ mổ mắt, máu me đầm đìa, ghê sợ.

Ông này đi tu từ nhỏ. Lớn lên được bậc tiền nhiệm giao cho làm trụ trì một chùa ở Sài Gòn. Ông là người thông minh, có học thức về Phật Pháp, thông thạo kinh sách, được tín chúng Phật tử kính ngưỡng, cúng dường rất nhiều, khiến ông sinh tâm kiêu mạn. Ông khinh thường các bậc tu hành khác, thường lấy tiền cúng dường để tư lợi riêng khiến đại chúng trong chùa bị thiếu hụt. Sau này ông còn lấy tiền đó mua nhà cho họ hàng đứng tên. Vì tội như thế, ông bị giảm 15 năm tuổi thọ, bị Hành Bệnh quỷ vương dày vò bằng bệnh tật, liệt giường liệt chiếu cho đến khi chết. Chết rồi bị đưa vào đây muôn vàn thống khổ.

Các vị quỷ vương còn chỉ thêm hai chú cháu cùng nối tiếp nhau làm trụ trì một chùa khu Chợ Lớn, thường lấy tiền chùa tiêu xài việc tư, đưa cha mẹ vào chùa bắt tăng ni phục vụ, và nhiều tội khác. Bây giờ, họ có hình thù kì dị, cổ nhỏ bụng to, mang gông xiềng xích, bị quỷ sứ đổ nước đồng sôi lên người, đau đớn khôn xiết.

Chuẩn bị rời khỏi ngục này, chợt có năm vị quỷ vương hiện đến chặn ni sư Diệu Hân lại. Họ tuyên bố chính cô sẽ phải chịu hình phạt trong ngục này, vì những tội mà cô đã gây ra trước kia. Nghe tới đây, cô giật mình kinh sợ. Các tội danh của cô phải chịu hình phạt gồm: chê sư phụ không có đạo hạnh, phá thai, ăn trộm gà về giết thịt, làm chứng người khác gian dâm, khiến vợ chồng bỏ nhau, chê bai đại chúng xuất gia, không chịu về chùa nhập chúng tu hành.

Cô hết sức bất ngờ, không thể lường được chính mình cũng sẽ phải thọ hình nơi đây. Rất nhanh chóng, các vị quỷ vương đưa cô đến chảo dầu. Nó rất to lớn, chứa được muôn vạn người chứ không phải cái chảo nấu bếp ta thường thấy, dầu trong chảo sôi sùng sục, độ nóng khủng khiếp.

Các vị quỷ vương thảy cô vào chảo dầu. Vì đã chuẩn bị trước, cô lập tức niệm Phật liên tục. Thật vi diệu, dù xung quanh là dầu sôi sùng sục, nhưng cô không thấy đau đớn gì hết. Tưởng như thế là đã thoát nạn, nhưng không.

Một vị quỷ vương lôi cô ra, ấn tay vào cổ ni sư Diệu Hân, đọc thần chú khóa khẩu, không cho cô có thể niệm Phật được nữa. Có lẽ vì họ muốn cô nếm mùi đau đớn của cực hình, sau này mới nghiêm trì giới hạnh được. Đọc chú xong, họ thảy cô lại vào chảo dầu sôi với độ nóng ghê hồn.

Lần này thì không tài nào niệm Phật được nữa, cô phải hứng chịu cái đau đớn tột độ, nó nhức buốt tới tận xương tủy. Cái nóng khiếp đảm của chảo dầu sôi sùng sục, như kim châm vào từng thớ thịt, như xé tan thân xác, lời lẽ khó tài nào miêu tả được. Cứ như thế suốt hai canh giờ ( tức 4 tiếng đồng hồ), cô chìm nổi, giãy giụa trong chảo dầu kinh hồn ấy.

Xong xuôi, cô được đưa ra. Một vị tên Ác Độc quỷ vương với bàn tay to lớn, xương xẩu, ghê rợn bắt đầu thực thi hình phạt tiếp theo với cô. Vị đó tát vào mặt cô từng nhát, từng nhát một, tát đến đâu, máu thịt tuôn ra đến đó. Cứ thế kéo dài một canh giờ (tức 2 tiếng đồng hồ).

Tiếp đến, các vị quỷ vương đem ra một rổ đầu gà rất lớn, banh miệng ni sư Diệu Hân ra, nhồi từng cái, nhét từng cái đầu gà vào họng cô. Cảm giác đau đớn như rách toạc cổ họng. Cô trợn mắt hứng chịu cực hình ấy cho đến khi nuốt trọn hết thúng đầu gà. Rồi lại bị quỷ vương vỗ đầu cho ói ra hết, xương gà, mỏ gà móc vào họng. Lúc nhét vào thì đỡ đau hơn, nhưng khi ói ra thì đau đớn tăng gấp trăm lần, cô cảm thấy thống khổ ghê gớm, nước mắt đầm đìa.

Hình phạt này kéo dài khoảng một canh giờ (tức 2 tiếng đồng hồ), đây là do khi trước, cô hay mua đầu gà về cho con ăn.

Chịu xong các hình phạt đó rồi, cô lại được dẫn đi đến các ngục khác. Có một ngục tên là “ Sơn hà xã tắc” có lẽ dành cho những quan chức, những những lãnh đạo đất nước phạm tội phải vào đây. Nhưng cô không được cho vào xem, mà đi qua các ngục khác.

Có một ngục tên là ngục Ăn Giòi, dành cho người đổ bỏ thức ăn, khinh chê người phục vụ, ngang ngược, hống hách… tội hồn bị triệu triệu con giòi rúc rỉa, hoặc có người phải bốc những con giòi đó cho vào mồn ăn, nhìn nổi hết da gà.

Có một ngục tên là Tham Lợi, dành cho những người bóc lột sức lao động của cấp dưới, tham lam, ăn bớt tiền công.v.v… Họ vào đây bị bắt ăn toàn là sỏi đá, hoặc tệ hơn, bắt ăn những sắt nóng đỏ, đau đớn gào khóc.

Lại một ngục khác tên là Sát Sinh, tội hồn ở đây, khi còn sống, giết con vật bằng cách nào, thì bị quỷ hành hình bằng đúng cách đó. Ví như lấy búa đập đầu trâu, thì bị quỷ đập nát đầu bằng búa. Hay khi xưa dùng dao cắt cổ gà, thì giờ cũng bị quỷ dùng dao cắt cổ lại. Cứ thế nên trong ngục này hình cụ đủ muôn nghìn loại khác nhau.

Rồi có một ngục hành hình bằng cột đồng cháy rực, cùng chảo dầu sôi, dành cho những kẻ tà dâm, ngoại tình, mua bán dâm, buôn bán phụ nữ làm gái lầu xanh, truyền bá dâm dục.v.v…

Lại có ngục tội hồn bị quỷ xé miệng, cắt lưỡi, chọc sắt nóng vào mồm.v.v… vì tội khinh chê dè bỉu, ăn không nói có, thị phi nhiều chuyện, chửi mắng hỗn xược…

Ngoài ra còn rất nhiều ngục khác, dành cho đủ hạng người trong xã hội tạo ác, từ dân đầu đường xó chợ, đâm thuê chém mướn mạt hạng, đến tầng lớp tri thức như luật sư, giáo viên, bác sĩ, nghệ sĩ, nhà văn, diễn viên… Tội danh thì muôn trùng sai khác, tội tày trời có, tội tầm thường có, nặng có, nhẹ có, ứng với mỗi tội lại hiện ra các thứ hình phạt khác nhau, mỗi mỗi đều cực kì đau đớn, rùng rợn.

Tội hồn ngục nào cũng thế, đâu đâu cũng máu me đầm đìa, xương thịt vương vãi, gào thét kinh hồn, đau đớn khôn xiết… Cứ chết đi lại hoàn lại hình hài cũ, tiếp tục hình phạt nối nhau. Một ngày một đêm, chết đi sống lại nghìn muôn lần thống khổ.

Sau khi đi qua các Địa ngục rồi, cô được đưa đến một khu tập hợp vong linh rất đông đúc, người người lớp lớp đứng hồi hộp chờ đợi. Nếu vẫn còn dư báo, thì bị các quỷ vương đọc thần chú biến hình thành các loại súc sinh, như thành gà, trâu, chó, rắn, rết.v.v… cho vào bao đưa đi đầu thai làm kiếp súc sinh, tiếp tục đền trả nợ cũ.

Nếu nghiệp nhẹ hơn thì được tái sinh làm người nghèo đói, tàn tật, hèn hạ…Họ phải đi qua một cây cầu bằng trúc, gặp một người phụ nữ rất đẹp (có lẽ là Mạnh Bà). Bà cho từng vong linh uống một thứ nước gì đó, rồi mới đưa đi đầu thai làm người.

Cuối cùng, các quỷ vương đưa cô trở lại chỗ ban đầu, diện kiến, cung kính đảnh lễ ba vị Quán Thế Âm Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát, Chuẩn Đề Bồ Tát. Đảnh lễ xong, các vị Bồ Tát bảo cô hãy niệm Phật. Cô liền làm theo, thì thấy mình bay bổng lên không trung, trở lại thế gian, nhập vào xác, lúc đó là 12 giờ trưa, kết thúc chuyến đi với những trải nghiệm rùng rợn, kinh hoàng nơi Địa Ngục.
_______________

Địa Ngục là một danh từ có mặt trong từ điển của mọi quốc gia Đông sang Tây, Âu đến Á. Từ những nền văn minh lớn, đến những lời truyền miệng của những dân tộc thiểu số khắp thế giới, từ những tôn giáo lớn như Phật giáo, Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo, đến các tín ngưỡng nhỏ lẻ ở mọi đất nước, đâu đâu cũng đề cập đến địa ngục.

Nếu như địa ngục là một sản phẩm của trí tưởng tượng, một biểu tượng mang tính chất tượng trưng thôi, tại sao Đông Tây kim cổ, ngàn xưa tới giờ, ở khắp nơi trên thế giới, dù bị địa lí, bị các đại dương ngăn cách, con người lại có thể tưởng tưởng ra cùng một thứ giống nhau như vậy ?

Câu trả lời rất đơn giản, vì địa ngục là có thật. Vì đó là sự thật, nên ở mọi nơi đều xuất hiện những bằng chứng cho thấy sự tồn tại của địa ngục. Các bậc trí giả ở mọi nền Văn minh đều xác quyết đó là sự thật, thậm chí mô tả tỉ mỉ về địa ngục.

Ấy thế từ xưa đến nay, luôn có rất nhiều người cho rằng địa ngục là một sản phẩm của trí tưởng tượng, nhằm răn đe là chính, chứ không phải sự thật. Để rồi họ mặc sức xuôi theo dục vọng mà làm đủ thứ tội ác lớn nhỏ, vì cho rằng chết là hết, sẽ chẳng có hình phạt gì cho những tội lỗi của họ. Đâu biết được rằng, phía sau cái chết là địa ngục với quỷ dữ, với đao kiếm, với lửa cháy dầu sôi, cùng đủ thứ quả báo kinh khủng đang chờ đợi họ.

Nếu ngay từ đầu, họ thức tỉnh sớm, bằng trí tuệ hay bằng niềm tin cũng được, nhận ra một chân lí rằng, Địa ngục là sự thật, Báo ứng là sự thật, mà nói ‘không’ với các tội lỗi và sự sa đọa. Thế thì đâu đến mức phải có đến triệu triệu, tỉ tỉ vong linh bị đầy đọa trong dầu sôi, trong lửa cháy, trong núi dao, rừng kiếm, gào thét đau đớn, ngàn vạn năm không biết khi nào thoát ra.

Hi vọng câu chuyện này, không nhiều thì ít, sẽ giúp cho thế nhân thoát khỏi những tà kiến phủ nhận Báo ứng, chối bỏ Địa ngục, tìm lại được sự thực, sáng lên được một chút chân lí, mà sớm dập tắt được ngọn lửa đau khổ, đã và đang nhen nhúm trong từng hành vi của chính mình.

4. Câu truyện số 4 về cõi địa ngục : Con sống lại nhờ cha từ bỏ sát sinh

Vào thời Nam Tống, đầu làng Nam Hàm, huyện Bình Dư, Hà Nam có một ông lão họ Trương sống bằng nghề bắt chim, ông chỉ có một cậu con trai tuổi còn khá nhỏ. Một ngày kia, con trai ông đột nhiên qua đời. Lão Trương lo nghĩ về già không có chỗ nương tựa nữa, ngày nào cũng khóc lóc thảm thiết không thôi.

Ngày thứ ba sau lễ mai táng, trong lúc ông lão đang khóc lóc bên mộ đứa con, ông nghe thấy có tiếng rên trong mộ, ông lão kinh ngạc nói: “Con trai ta đã sống lại rồi!”, rồi mở ngôi mộ ra xem thử, đứa con trai quả nhiên đã sống lại.

Con trai lão Trương sau khi sống lại kể rằng, khi chết bị người giải đến âm ty, cậu đau khổ cầu xin quan âm phủ rằng cha mẹ mình đã già, mong được sống lại phụng dưỡng cha mẹ cho đến cuối đời, làm trọn đạo hiếu của người làm con rồi mới về âm gian, được vậy có chết cũng không hối tiếc.

Quan âm phủ thấy hoàn cảnh cậu đáng thương nên nói rằng: “Hôm nay ta cho ngươi trở về, ngươi hãy nói với cha ngươi nếu có thể không sát sinh săn bắn, bắt chim nữa thì có thể kéo dài tuổi thọ cho ngươi!”. Lão Trương nghe xong lập tức đem thiêu hủy hết lưới bắt chim cũng như các loại dụng cụ săn bắt khác, rồi dẫn con trai lên chùa bái Phật.

Trong chùa có một vị tăng nhân họ Lữ, tuổi chưa đến 40, dáng người cao lớn. Con trai lão Trương liền hỏi ông rằng: “Chú cũng đã được hồi sinh rồi sao?”. Vị tăng nhân họ Lữ nói: “Ta nào đã từng chết bao giờ đâu?” Cậu con trai lão Trương liền kể rằng: “Lúc ở âm gian cháu đã nhìn thấy chú, chú bị trói lên một cây cột đồng ở góc điện, xích sắt trói chân, lính cai ngục dùng gậy đánh tới tấp vào dưới nách chú, máu chảy đầm đìa. Khi được quan âm phủ thả về, cháu từng hỏi lính cai ngục rằng cớ sao chú kia phải chịu tội ở đây? Lính cai ngục nói: Y nhận lời tụng niệm kinh văn cho trai chủ (người bố thí cơm), vậy mà lại bỏ sót rất nhiều phần không niệm, vậy nên phải chịu ác báo này”.

Vị tăng nhân họ Lữ nghe xong rất lấy làm kinh hãi, thì ra dưới nách ông bị bệnh lở loét đã ba năm rồi, con trai lão Trương không thể biết chuyện ông bị bệnh được. Tăng nhân họ Lữ từ đó trở đi hàng ngày ở trong phòng thiền tụng niệm thêm kinh văn, ba năm sau vết thương dưới nách mới khỏi hẳn.

Từ những ghi chép lịch sử này, chúng ta có thể thấy hành vi sát sinh quả thật sẽ tạo nghiệp lực, đã tạo nghiệp thì chắc chắn sẽ gặp báo ứng, có thể là hình thức người thân bị giảm tuổi thọ, cũng có thể là hình thức báo ứng khác. Đồng thời âm gian cũng rất coi trọng đạo hiếu của con người, con trai nhà họ Trương chính vì rất coi trọng chữ hiếu mới được quan âm phủ thương xót cho sống lại.

Tăng nhân họ Lữ vốn là một đệ tử Phật gia, nhận lời niệm kinh cho người khác nhưng lại không thực hiện, vì vậy bị phạt nơi âm phủ, may mà về sau đã bù đắp sửa sai.

Do đó chúng ta khi sống nhất định phải giữ gìn đạo đức và phẩm hạnh của mình, tuyệt đối không thể làm càn, làm bừa, không được sát sinh, hay lừa lọc người khác,… mọi thứ đều có báo ứng, vấn đề chỉ là thời gian mà thôi. Hãy nhớ: “Làm việc thiện sẽ được thiện báo, làm việc ác sẽ bị ác báo!“.

About admin

Trang web về xem tử vi phong thủy nhân tướng học hướng tới các đối tượng trẻ 9x 10x để họ nhận thức được các giá trị của cuộc sống qua đó trân trọng và thấu hiểu cuộc đời